Tin tức - Sự kiện Bản tin VNGO Bản tin hoạt động các tổ chức phi chính phủ Việt Nam ngày 19 tháng 5 năm 2018

Bản tin hoạt động các tổ chức phi chính phủ Việt Nam ngày 19 tháng 5 năm 2018

Email In PDF.

Ứng phó với chính sách thương mại mới của Hoa Kỳ: Doanh nghiệp cần nghiên cứu thông tin

Doanh nghiệp phải có nghiên cứu thị trường, đặc biệt là luật liên bang và luật riêng của các tiểu bang từ đó xây dựng chiến lược tiếp cận thị trường, chiến lược sản phẩm phù hợp để ứng phó với các chính sách thương mại mới của Hoa Kỳ.

Đây là chia sẻ của các chuyên gia tại Diễn đàn Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ do Bộ Công Thương vừa tổ chức sáng 18/5, tại TPHCM. Phát biểu khai mạc diễn đàn, Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải đánh giá, sự kiện này sẽ cung cấp thông tin, cập nhật tình hình chính sách, đưa ra những phân tích, nhận định, giải pháp để giúp định hướng cho doanh nghiệp (DN) xây dựng chiến lược tiếp cận thị trường Hoa Kỳ một cách chuyên nghiệp và bài bản.

“Thách thức lớn đối với doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam hiện nay là do hệ thống pháp luật của Hoa Kỳ đặt ra rất nhiều quy định chặt chẽ đối với hàng nhập khẩu. Ngoài luật liên bang, mỗi tiểu bang của Hoa Kỳ lại có những quy định, luật định khác nhau. Bên cạnh đó, xu hướng bảo hộ thông qua việc ban hành các quy định, tiêu chuẩn mới, phức tạp về chất lượng, an toàn thực phẩm, nguồn gốc sản phẩm, đặc biệt là đối với các sản phẩm nông - lâm - thủy sản cũng ngày càng được Hoa Kỳ tăng cường áp dụng” - Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải cho biết.

Cũng tại đây, ông Tim Linston  – Phó Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại TP. Hồ Chí Minh – chia sẻ, phát triển quan hệ ngoại giao và hợp tác kinh tế giữa Hoa Kỳ và Việt Nam thời gian qua đã góp phần vào sự gia tăng lợi ích của DN hai bên. “Việt Nam là thị trường có tốc độ phát triển nhanh nhất châu Á trong thời gian tới. Điều này sẽ tạo ra nhiều cơ hội hợp tác, đầu tư hiệu quả cho các DN Hoa Kỳ nhất là trong các lĩnh vực đầu tư, thành phố thông minh, giáo dục...” - ông Tim Linston khẳng định.

Từ phía các DN cũng cho biết, trong bối cảnh hội nhập toàn diện hiện nay, các chính sách bảo hộ thương mại là khó tránh khỏi. Ông Trương Đình Hòe - Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) - cho rằng, xu hướng bảo hộ ngành thủy sản trong thời gian qua cũng cần nhìn nhận trên nhiều khía cạnh khác nhau, ở khía cạnh tiêu cực lẫn tích cực. Tuy nhiên, các DN thủy sản đã và đang kiên trì đi theo mục tiêu của mình đó là nâng cao chất lượng, giá cả cạnh tranh, đảm bảo an toàn thực phẩm tuyệt đối. “Dù chính quyền Hoa Kỳ có bảo hộ thương mại thì người mua hàng vẫn cần những sản phẩm chất lượng với giá cạnh tranh” - ông Hòe nhấn mạnh.

Ở góc độ quản lý nhà nước, Thứ trường Đỗ Thắng Hải đánh giá cao định hướng phát triển của nhiều nhà xuất khẩu của Việt Nam khi đã xác định được chiến lược đúng đắn để tìm kiếm cơ hội ở những phân khúc thị trường phù hợp, từng bước mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh sang thị trường Hoa Kỳ và nhiều thị trường khác.

Đây cũng là nền móng vững chắc để các DN Việt Nam khác mạnh dạn đầu tư, xuất khẩu và tìm kiếm cơ hội trên thị trường thế giới. “Bộ Công Thương khuyến khích các DN Việt Nam cùng nhau phối hợp xây dựng chuỗi cung ứng sản xuất hàng xuất khẩu đi Hoa Kỳ, thông qua đó mang lại nhiều giá trị gia tăng cho hàng hóa Việt Nam, Bộ Công Thương luôn sẵn sàng hỗ trợ DN trong tiến trình này. Bên cạnh đó cũng mong muốn và kêu gọi DN chủ động nghiên cứu nhập khẩu từ thị trường Hoa Kỳ các máy móc, thiết bị, công nghệ cao phù hợp, phục vụ cho sản xuất, xuất khẩu” - Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải khẳng định. (Công Thương 18/5/2018)

Tăng quyền tự quyết tài chính cho các hội không sử dụng kinh phí nhà nước

Hiện vẫn đang tồn tại 2 loại hội: Hội có nguồn tiền thù lao cho cán bộ chuyên trách do ngân sách nhà nước chi trả và loại hội mà tiền thù lao do nguồn kinh phí tự có của của hội chi trả. Đối với các hội dùng nguồn tiền nhà nước trả thù lao thì phải do nhà nước quy định và quản lý; còn đối với các hội sử dụng kinh phí tự có thì cần có quyền tự quyết.

Đó là một trong những ý kiến đáng chú ý tại Hội thảo “Góp ý Dự thảo nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị đính số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội” do Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam tổ chức chiều 18/5.

Theo TS. Phạm Văn Tân, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư kýLiên hiệp các hội KH&KT Việt Nam, Nghị định số 45 chưa bám sát nội dung của Sắc lệnh số 102/SL/L004 được ban hành từ năm 1957 và hiện vẫn còn hiệu lực về quyền lập hội của công dân, chỉ tập trung quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội mà chưa quan tâm thể hiện đầy đủ các quy định về quyền lập hội có liên quan mật thiết với nhiều quyền khác, như quyền hội họp, quyền tự do ngôn luận, quyền tiếp cận thông tin, quyền của công dân trong việc tham gia vào quản lý Nhà nước và xã hội,…

“Mặt khác, Nghị định cũng chưa xác lập các nguyên tắc và điều kiện theo hướng đảm bảo để hội được ban hành giải quyết các vấn đề của đất nước với tư cách là những thành tố quan trọng trong hệ thống chính trị nước ta”, TS. Phạm Văn Tân khẳng định.

Cũng theo TS. Pham Văn Tân, về khái niệm hội và vấn đề hội có tư cách pháp nhân (điều 2), khái niệm hội chưa đầy đủ và chưa rõ ràng khi chỉ nêu: “Hội… được hiểu là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam,...” là chưa thấu đáo. Bởi lẽ có rất nhiều tổ chức hội không hoàn toàn là tổ chức tự nguyên của công dân, tổ chức. Thực tế, có nhiều tổ chức được lập ra dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước để tập hợp lực lượng thực hiện một hoặc nhiều nhiệm vụ chính trị cụ thể, họ là hội nhưng không hoàn toàn là tổ chức tự nguyện của công dân.

“Nghị định quy định hội là tổ chức có tư cách pháp nhân. Điều này tuy bảo đảm tính chặt chẽ và thuận tiện cho việc quản lý Nhà nước về hội, nhưng lại chưa phản ánh được quyền lập hội, nguyện vọng chính đáng của người dân khi có nhu cầu cần lập hội. Hơn nữa, số lượng các hội không có tư cách pháp nhân là rất lớn, quy định như vậy đã tạo nên một khoảng trống pháp lý đáng kể”, TS. Phạm Văn Tân lưu ý.

TS. Tạ Ngọc Hải, Viện khoa học tổ chức nhà nước – Bộ Nội vụ, cho rằng, hiện nay trách nhiệm quản lý đối với hội vẫn còn nhiều hạn chế. Đến nay (tháng 5/2018), nhưng số liệu thể hiện trong các báo cáo của cơ quan Nhà nước về hội và các nghiên cứu về hội ở nước ta vẫn dùng số liệu từ năm 2014. Cụ thể, đến tháng 12/2014, cả nước có 52.565 hội (483 hội phạm vi hoạt động cả nước và 52.082 hội hoạt động phạm vi địa phương). Trong đó, có 8.792 hội có tính chất đặc thù (28 hội hoạt động phạm vi cả nước và 8.746 hội hoạt động phạm vi địa phương).

Cũng theo TS. Hải, hệ thống pháp luật về hội, và trong tổ chức, hoạt động của hội còn nhiều bất cập. Cụ thể, chưa phân biệt rõ các hội do Đảng và Nhà nước có nhu cầu thành lập được ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động với các hội khác tự lo kinh phí hoạt động. Ngoài ra, Nhiều hoạt động còn hình thức, chưa đáp ứng được nguyện vọng, lơi ích hợp pháp của các hội viên, còn trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, có xu hướng “hành chính hóa” trong tổ chức và hoạt động hội theo cấp hành chính.

Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam Trần Ngọc Hùng bày tỏ gay gắt về nội dung dự thảo sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 45/2010/NĐCP. Theo ông, toàn bộ Dự thảo Nghị định lần này không tiếp thu được những ý kiến đóng góp của các đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp khi tham gia đóng góp ý kiến Dự thảo Luật về Hội, như đối tượng, trình tự thủ tục đăng ký khi thành lập Hội. Cơ chế tạo điều kiện các tổ chức hội thực hiện nhiệm vụ của mình theo điều liệ, giảm bớt các thủ tục mang tính “Quản lý”, can thiệp vào các công việc của hội về tổ chức, về người lãnh đạo. Đặc biệt là một số tiến bộ đã thống nhất sửa đổi trong dự thảo Luật về Hội đã không được đưa vào dự thảo sửa đổi Nghị định 45.

Về chính sách, chế độ đối với người làm việc tại hội, TS. Trần Việt Hùng – Chủ tịch Tổng hội Cơ khí Việt Nam cho rằng, việc bổ sung thêm quy định về chính sách, chế độ đối với người làm việc tại hội là cần thiết. Tuy nhiên, Quy định về chế độ trả thù lao đối vơi người đã nghỉ hưu làm việc tại hội là chưa hợp lý và lỏng lẻo về mặt quản lý.

Nếu giao cho “hội tự quyết định”, thì phải quy định luôn cơ chế cho quyết định này, thí dụ, đưa vào Điều lệ hội hoặc Nghị quyết của Ban chấp hành hội trong từng nhiệm kỳ.

Ngoài ra, việc quy định “mức thù lao tối đa” cũng không hợp lý. Vì, với quy định như vậy, thù lao của nguyên bộ trưởng sẽ cao hơn thù lao của nguyên vụ trưởng, dù đảm nhiệm cùng một chức vụ trong hội.

Mặt khác, “hiện vẫn đang tồn tại 2 loại hội: Hội có nguồn tiền thù lao cho cán bộ chuyên trách do ngân sách nhà nước chi trả và loại hội mà tiền thù lao do nguồn kinh phí tự có của của hội chi trả. Như vậy, đối với các hội dùng nguồn tiền nhà nước trả thù lao thì phải do nhà nước quy định và quản lý; còn đối với các hội sử dụng kinh phí tự có thì có quyền tự quyết.

Ngay cả trong nhóm các hội dùng kinh phí tự có để trả thù lao, cũng có những cách biệt khá xa: Các hiệp hội doanh nghiệp có tiềm năng kinh tế lớn, nên họ sẵn sàng trả mức thù lao cao hơn mức thù lao tối đa quy định trong dự thảo”, ông Trần Việt Hùng thẳng thắn.

Các đại biểu có mặt tại Tọa đàm đều thống nhất rằng, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Chính phủ đang có những cải cách quyết liệt nhằm tạo mội trường kinh doanh thuận lợi cho sự phát triển và đóng góp của các doanh nghiệp thì cũng rất cần môi trường pháp lý thuận lợi để huy động và thúc đẩy sự tham gia đóng góp của người dân thông quan việc phát huy vai trò của hội. Do đó, rất cần sửa đổi, bổ sung nghị định về hội một cách toàn diện, khắc phục những bất cập về tạo điều kiện cho hội phát triển. Đồng thời, việc sửa đổi nghị định lần này cũng tạo tiền đề để cho việc xây dựng Luật về Hội trong thời gian tới. (VietTimes 18/5/2018)

Mới chỉ có 2% hợp tác xã tiếp cận được nguồn vốn

Chiều 18-5, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam phối hợp với Viện Kinh tế nông nghiệp hữu cơ đã tổ chức hội thảo “Xúc tiến thương mại, công nghệ và thu hút vốn phát triển hợp tác xã Việt Nam”.  Ủy viên Ban Thường vụ Thành uỷ, Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP Hà Nội Nguyễn Văn Sửu đến dự.

Đến nay, cả nước có 20.204 hợp tác xã, 93.226 tổ hợp tác và 59 liên hiệp hợp tác xã trong tất cả ngành, lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ, xây dựng, vận tải, tín dụng… Các hợp tác xã đã và đang có những đóng góp quan trọng vào quá trình thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế, xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an sinh xã hội, ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội.

Thống kê của Liên minh hợp tác xã Việt Nam cho thấy, mới chỉ khoảng 2% số hợp tác xã tiếp cận được vốn vay. Thiếu vốn khiến nhiều hợp tác xã khó mở rộng sản xuất kinh doanh, thậm chí còn có khả năng rơi vào nguy cơ phá sản; những hợp tác xã muốn vươn lên tiếp cận công nghệ cao càng gặp khó. 

Tham luận tại hội thảo, các đại biểu cho rằng: Các hợp tác xã cần đẩy mạnh việc xây dựng thương hiệu, sản phẩm cho hợp tác xã để nâng cao giá trị, đăng ký sở hữu trí tuệ để truy xuất nguồn gốc. Các doanh nghiệp cần liên kết với hợp tác xã trong tiêu thụ sản phẩm, đưa sản phẩm hợp tác xã tham gia các hội chợ trong và ngoài nước. Các bộ, ngành, chính quyền địa phương cần có chính sách hỗ trợ cho hợp tác xã về vốn để mở rộng ngành nghề kinh doanh; đồng thời, các hợp tác xã có điều kiện đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm. (Hà Nội mới Online 18/5/2018)

Du lịch gắn với nông nghiệp nông thôn nhiều tiềm năng, nhưng phát triển chưa xứng tầm

Ý kiến được các đại biểu đưa ra tại Hội thảo “Phát triển du lịch sinh thái bền vững gắn với nông nghiệp, nông thôn” do Tổng cục Du lịch (Bộ VHTTDL), UBND tỉnh Quảng Nam và Báo Nông thôn Ngày nay/Dân Việt thuộc Hội Nông dân Việt Nam phối hợp tổ chức, diễn ra sáng 18/5 tại Hội An.

Phát biểu tại sự kiện, ông Nguyễn Quý Phương, Vụ trưởng Vụ Lữ hành, Tổng cục Du lịch cho hay, trong định hướng chiến lược phát triển du lịch Việt Nam, du lịch sinh thái gắn với nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn được  xác định là 1 trong 5 dòng sản phẩm chủ đạo. Nhiều năm trở lại đây, sản phẩm du lịch sinh thái nông nghiệp là điểm nhấn thu hút, thúc đẩy tăng trưởng du khách. Tại TPHCM, nhu cầu khách du lịch tham quan trải nghiệm ở khu nông trại miệt vườn tăng đều mỗi năm từ 20-30%.

Ông Lê Trí Thanh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam cho biết, trong những năm gần đây ngành nông nghiệp tỉnh quảng Nam luôn tăng trưởng mạnh, giá trị sản xuất 12.000-13.000 tỉ đồng/năm, năm sau cao hơn so với năm trước từ 3,5-4%. Năm 2010, giá trị ngành nông nghiệp chiếm tỉ trọng 11,6% tổng sản phẩm trên địa bàn. Dù đóng góp trực tiếp không nhiều và thu ngân sách nhà nước, nhưng 76% dân số sống ở khu vực nông thôn đã góp phần ổn định kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam, đặc biệt khu vực nông thôn. Đối với ngành du lịch, Quảng Nam là một địa bàn có lợi thế lớn của cả nước, những năm qua doanh thu ngành này thường đạt 8.500-9.500 tỉ đồng/năm.

“Mặc dù đã có những bước phát triển tốt nhưng du lịch quảng Nam còn chưa khai thác hết được tiềm năng thế mạnh của địa phường, chưa tạo thêm nhiều sản phẩm du lịch mới hấp dẫn du lịch.
Chính vì vậy chúng tôi tin rằng sự kết hợp giữa du lịch với nông nghiệp chắc chắn sẽ cộng hưởng để tạo ra những sản phẩm độc đáo mới mà kết tinh trong đó là những giá trị về lịch sử - văn hóa – thiên nhiên đặc thù đa dạng của mỗi miền quê xứ Quảng làm thay đổi nhận thức và tăng thêm thu nhập cho người dân nông thôn”.ông Lê Trí Thanh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam chia sẻ.

Ghi nhận ý kiến của các bên, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Nguyễn Văn Tuấn khẳng định: “Thời gian qua, ngành du lịch khai thác những lợi thế về nông nghiệp để tạo các sản phẩm du lịch gắn với nông nghiệp mang giá trị gia tăng cao chưa được nhiều. Để khắc phục và phát huy tốt tiềm năng du lịch sinh thái nông nghiệp, ngành du lịch và nông nghiệp cần có sự hợp tác chặt chẽ hơn.

Đồng thời cần có những người biết dựa trên những giá trị khác biệt và nổi bật của nông nghiệp để tạo ra các sản phẩm du lịch gắn với nông nghiệp mang tính đặc thù và hấp dẫn, khai thác tối đa những đặc trưng ưu việt của nền nông nghiệp kết hợp với giá trị văn hóa bản sắc của từng vùng miền, góp phần đưa du lịch sinh thái nông nghiệp phát triển đột phá, hiệu quả". (VietTimes 18/5/2018)

Sẽ xử lý sai phạm của Tạp chí Môi trường và Đô thị

Sáng 18/5, Bộ Công Thương gửi công văn hỏa tốc tới Bộ Thông tin và Truyền thông, đề nghị xử lý Báo Môi trường và Đô thị về thông tin trong bài báo là sai sự thực.

Công văn số 3874/BCT-VP do Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng ký, yêu cầu báo Môi trường và Đô thị (Hiệp hội Môi trường và Đô thị Việt Nam) công khai xin lỗi, đồng thời đăng thông tin cải chính trong bài viết có hình ảnh căn biệt thự ở Vườn Đào, Hồ Tây với chú thích chủ nhân căn biệt thự hiện là Bộ trưởng Bộ Công Thương.

Công văn nêu: "Vào hồi 18:54 ngày 17/5/2018, Báo Môi trường và Đô thị điện tử đã đăng bài viết “Chiêm ngưỡng những căn biệt thự siêu đẹp ở Vườn Đào, Hồ Tây”. Trong đó, bức hình thứ 7 có chú thích “… Chủ nhân của căn biệt thự này hiện là Bộ trưởng Bộ Công Thương". Bộ Công Thương khẳng định, việc tờ báo trên đăng hình ảnh căn biệt thự kèm theo chú thích như trên là hoàn toàn bịa đặt, sai sự thật, nhằm bôi nhọ uy tín, danh dự của cá nhân Bộ trưởng, đồng thời ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, hình ảnh của ngành Công Thương".

Bộ Công Thương đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông xem xét xử lý hành vi vi phạm của Báo Môi trường và Đô thị Việt Nam điện tử. Đồng thời yêu cầu báo cần công khai xin lỗi và đính chính nội dung sai lệch kể trên.

Được biết, ngay chiều 18/5/2018, tạp chí Môi trường và Đô thị đã chính thức có đính chính và xin lỗi Bộ trưởng Trần Tuấn Anh

Cũng ngay trong ngày 18/5/2018, Cục Báo chí thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông đã có văn bản gửi Tổng biên tập tạp chí Môi trường và Đô thị. Qua kiểm tra nội dung, Cục Báo chí nhận thấy thời gian qua Tạp chí này đã đăng tải nhiều tin, bài thực hiện không đúng tôn chỉ mục đích ghi trong giấy phép hoạt động báo chí.

Để xem xét 3 vụ việc nêu trên, theo quy định, Cục Báo chí đề nghị Tổng biên tập tạp chí MT&ĐT đến làm việc, thời gian vào lúc 9h ngày 22/5/2018. Khi đến làm việc đề nghị Tạp chí có báo cáo giải trình bằng văn bản, cung cấp các tài liệu liên quan đến nội dung vụ việc nêu trên. (Công Thương, Xây Dựng, Infonet 18/5/2018)

Y tế thông minh 2018: Cuộc thi không nhận tài trợ của các đơn vị dự thi

Chiều 17.5, PGS-TS Trần Quý Tưởng, Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin Bộ Y tế đã chính thức thông báo về cuộc thi Y tế thông minh 2018.

Cuộc thi do Cục Công nghệ thông tin Bộ Y tế phối hợp với Hội tin học Việt Nam tổ chức trong lĩnh vực y tế. Cuộc thi có các giải nhất, nhì, ba và giải khuyến khích, giải xuất sắc nhất theo từng nhóm sản phẩm dự thi bao gồm: nhóm sản phẩm về phần mềm quản lý bệnh viện (HIS), phần mềm bệnh án điện tử (EMR); phần mềm quản lý xét nghiệm (LIS); phần mềm lưu trữ và truyền tải hình ảnh (PACs) và nhóm sản phẩm phần mềm quản lý hoạt động trạm y tế xã (HCIS - Health Commune Information System). Tham dự cuộc thi phải là các phần mềm đã triển khai sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt. Đối tượng dự thi là các tổ chức, cá nhân, các bệnh viện có sản phẩm phù hợp và đảm bảo các quy định về bản quyền. Sản phẩm dự thi gửi về Cục CNTT, 135 Núi Trúc, Q.Ba Đình, Hà Nội, từ ngày 1.6 đến hết 15.8.2018. Ban tổ chức không nhận tài trợ của các đơn vị có sản phẩm dự thi.

Cuộc thi nhằm tôn vinh các ứng dụng CNTT y tế xuất sắc giai đoạn vừa qua, thúc đẩy việc phát triển ứng dụng CNTT y tế với chất lượng tốt hơn và góp phần giúp các cơ quan, đơn vị trong ngành y tế nhận biết được các sản phẩm phù hợp. (Thanh Niên 18/5/2018)

Chủ tịch Hội đồng nghệ thuật của Hội Sân khấu Hà Nội: “Như thế này là họ coi thường chúng tôi quá”!

“Sốc”, “vô cùng bức xúc” là những từ được nhiều nhà nghiên cứu, biên kịch phải thốt lên tại hội thảo “Mối quan hệ giữa tác giả biên kịch với các Nhà hát Thủ đô hiện nay”, do Hội Sân khấu Hà Nội tổ chức bởi gần như không có một đại diện hoặc lãnh đạo các nhà hát nào của Hà Nội có mặt, mặc dù được mời.

Rất nhiều tác giả và đại biểu còn bày tỏ sự thất vọng khi tới dự Hội thảo này vào ngày 16.5. “Không có bột không gột nên hồ”, kịch bản có thể nói là khâu then chốt, yếu tố đầu tiên tạo nên sự thành công cho một tác phẩm sân khấu. Những tưởng rằng các nhà hát sẽ phải rất quan tâm tới vấn đề mà hội thảo đặt ra nhưng ngược lại là sự vắng mặt không hề có lý do. Và đáng nói điều này không chỉ xảy ra một lần.

Tuy vậy, rất nhiều tác giả, nhà hoạt động sân khấu cũng đã rất thẳng thắn chia sẻ những quan điểm của mình, và tất cả đều có chung nhận định: Sự gắn kết giữa tác giả sân khấu với các nhà hát trong giai đoạn hiện nay còn lỏng lẻo khiến sức sáng tạo của mỗi chủ thể chưa được phát huy. Đây là một nguyên nhân dẫn đến sân khấu của Thủ đô ngày càng thiếu những kịch bản hấp dẫn, mang hơi thở thời đại, nhức nhối với tình trạng “thừa vở diễn yếu, thiếu vở hay, loay hoay mà đèn không đỏ”.

PGS.TS Trần Trí Trắc cho rằng, hiện nay, Hội đồng nghệ thuật ở các nhà hát đang tuân theo cách lựa chọn và khuynh hướng sáng tạo của người quản lý và vì thế đã thủ tiêu tài năng nghệ sĩ, làm mất phong cách độc lập, độc đáo của từng nhà hát. Cách lựa chọn này với tinh thần phục vụ chính trị chứ không theo nhu cầu thẩm mỹ của khán giả. Đây chính là lý do các nhà hát ở Hà Nội không hề có phong cách riêng. PGS Trần Trí Trắc còn nói, việc sáng tác kịch bản hiện nay của nhiều tác giả sân khấu đều chạy theo xu hướng đón lõng những sự kiện chính trị để hăm hở viết các đề tài định kỳ về chiến tranh cách mạng, danh nhân văn hoá… “Điều này dẫn đến kịch bản thì tràn lan, nhiều khi kịch bản không phải là xuất sắc nhưng nếu quan hệ tốt và được “lọt mắt xanh” lãnh đạo đơn vị nghệ thuật thì mới được lựa chọn”, PGS này chua thêm.

Rất khẩn thiết với vai trò tổng kết hội thảo, PGS, TS Trần Trí Trắc trong lời tổng kết đã nói rằng, “như thế là họ (lãnh đạo các nhà hát của Hà Nội) coi thường chúng tôi quá”, và nhờ tới công luận hãy gửi những chia sẻ đầy tâm tư của các tác giả, các nhà hoạt động sân khấu đến với các nhà quản lý nghệ thuật, đặc biệt là các vị lãnh đạo các nhà hát, các đơn vị nghệ thuật của thủ đô nói riêng, sân khấu nói chung.

Đã tới lúc cần thay đổi quan điểm lựa chọn kịch bản cũng như cơ chế “xin - cho”. Nên chăng cần thiết lập những hình thức quan hệ mới, năng động hơn, đa dạng hơn, khoa học hơn và phải đặt trong quan hệ “hợp đồng kinh tế” giữa bên A với bên B theo cung và cầu của cơ chế thị trường. Để thực hiện tốt điều này, các nhà hát phải là bên A chủ động thông tin về đề tài, chủ đề, nội dung, hình thức... tới các tác giả là bên B.  (Văn Hoá 17/5/2018)

Khánh Hoà: Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam thăm nông dân trồng xoài thu gần 1 tỷ đồng/năm

Ngày 18.5, ông Thào Xuân Sùng - Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam cùng đoàn công tác đã đến thăm mô hình trồng xoài, nuôi gà trong nhà lạnh của các hộ dân tại huyện Cam Lâm (Khánh Hòa).

Tại đây, ông Thào Xuân Sùng đánh giá rất cao các hội viên nông dân có những bước đi đột phá trong việc chọn giống, chăm sóc xoài chất lượng cao, gắn kết với thị trường. Ông cho rằng, xoài nơi đây năng suất cao, quả đẹp và chất lượng thơm ngon.

Tuy nhiên, nông dân Cam Lâm vẫn chưa khai thác hết tiềm năng sẵn có của địa phương. Vì thế, Hội Nông dân huyện cần phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành xây dựng sản phẩm xoài gắn với phát triển dịch vụ du lịch. Với cách làm này, du khách có thể tận hưởng bóng mát, nghỉ ngơi, chụp ảnh với vườn xoài, thưởng thức sản phẩm đặc thù. Từ đó, sẽ mở ra cơ hội giúp cho nhiều nông dân làm giàu trên vùng đất cát.

Ông Trần Văn Thu, Chủ tịch Hội ND xã Cam Hiệp Bắc (Cam Lâm) cho biết, thông qua nguồn vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân, 15 hộ trồng xoài đã được tiếp cận được tổng nguồn vốn 1 tỷ đồng. Từ nguồn vốn ưu đãi này, bà con đã mạnh dạn đầu tư lắp đặt hệ  thống tưới nước tiết kiệm cho vườn xoài của mình. Đến nay, nhiều hộ khó khăn đã vươn lên làm giàu, thu nhập bình quân từ 200 - 300 triệu đồng/ha/hộ.

Dịp này, đoàn đã đến thăm hộ ông Nguyễn Sơn, xã Cam Hải Tây, huyện Cam Lâm-một trong những nông dân tiêu biểu của địa phương. Ông Sơn cho biết, với diện tích gần 3ha, gia đình đã đầu tư trồng giống xoài Đài Loan, xoài Úc và Hòa Lộc. Với giá bán từ 40.000 - 70.000 đồng/kg, dịp Tết có giá 100.000 đồng/kg; bình quân mỗi năm gia đình thu nhập từ 800 - 1 tỷ đồng. Hiện tại, gia đình ông đang hoàn thiện cơ sở hạ tầng để kết hợp trồng xoài gắn với phát triển du lịch. (Dân Việt 18/5/2018)

Zhishan khánh thành thư viện đầy sắc màu tại Huế

Ngày 17/5/2018, Văn phòng dự án Zhishan Foundation tổ chức khánh thành thư viện của bé tại trường mầm non Hưng Lộc, xã Lộc Bổn, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Dự án xây dựng thư viện của bé tại trường mầm non huyện Phú Lộc nhằm mục đích tạo không gian học tập và vui chơi bổ ích cho trẻ. Giúp trẻ có trải nghiệm tuổi thơ thú vị, có môi trường thể hiện sự sáng tạo, tìm tòi, khám phá, suy nghĩ của bản thân theo phương châm “học mà chơi, chơi mà học”; Tạo không gian cho trẻ rèn luyện các kỹ năng ngôn ngữ, tư duy, sáng tạo.

Sau 3 tháng triển khai thực hiện, đến nay Thư viện của bé đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, phục vụ cho 300 trẻ em của trường mầm non Hưng Lộc. Thư viện được chia ra nhiều góc khác nhau như góc dân gian, góc đọc sách, góc khoa học trí tuệ, góc sáng tạo và góc nghe nhìn. Thông qua các hoạt động tham gia của trẻ em tại thư viện này, Zhishan mong muốn nâng cao nhận thức của cha mẹ, gia đình, cộng đồng về nhu cầu và quyền được vui chơi của trẻ em.

Tổng kinh phí xây dựng thư viện là 140 triệu đồng, trong đó Zhishan đầu tư gần 100 triệu đồng, phần còn lại do trường đối ứng.

Ông Hoàng Trọng Thủy, trưởng văn phòng dự án Zhishan Foundation chia sẻ: “Trong khi khu vực nông thôn còn thiếu thốn những sân chơi an toàn, lành mạnh và bổ ích cho trẻ em, thì thư viện đồ chơi là phương tiện bù đắp thiệt thòi của tuổi thơ các cháu". (Thời Đại 18/5/2018)

Vĩnh biệt Giáo sư Phan Đình Diệu

Sáng 18/5/2018 tại Nhà Tang lễ Quốc gia số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội, lễ tang GS TS Phan Đình Diệu - nguyên Viện trưởng đầu tiên của Viện Khoa học Tính toán và Điều khiển, nguyên Chủ tịch đầu tiên Hội Tin học Việt Nam đã được tổ chức với rất đông các cơ quan, đoàn thể và nhiều cá nhân đến viếng. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã gửi vòng hoa đến viếng.

Trong lời điếu văn sau lễ viếng, GS TS Nguyễn Hữu Đức - Phó giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội khẳng định, GS TS Phan Đình Diệu là một trí thức đầy tâm huyết với đất nước. Trên mọi cương vị công tác, ông đều cống hiến hết mình. GS TS Phan Đình Diệu là tấm gương sáng mà các thế hệ đi sau phải học tập về nhiều mặt.

Sau lễ viếng, linh cữu của ông đã được chuyển lên xe tang để đưa đến nơi an nghỉ cuối cùng là Nghĩa trang Lạc Hồng Viên (Kỳ Sơn, Hòa Bình). (VietTimes 18/5/2018)

Vĩnh biệt NSND Hoàng Chè - giọng ca trên tuyến lửa

Nhạc sĩ Trương Ngọc Ninh, Chủ tịch Hội Âm nhạc Hà Nội vừa thông báo, Đại tá, NSND Hoàng Chè - giọng ca quân đội từng phục vụ trong những năm kháng chiến ác liệt, đã qua đời ngày 15-5, tại Hà Nội.

NSND Hoàng Chè, sinh năm 1948, là người con Đông Ngạc, Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Ông tham gia kháng chiến và trở thành ca sĩ nòng cốt của Đoàn văn công Trường Sơn, Đoàn văn công Quân giải phóng, đem tiếng hát cổ vũ cán bộ, chiến sĩ trên tuyến lửa, đến khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. 
Tên tuổi của ông thường được nhắc tới cùng các giọng ca trưởng thành trong kháng chiến như NSND Doãn Tần, NSND Quang Thọ, NSƯT Minh Đức, NSƯT Quang Huy... 
Năm 2008, NSND Hoàng Chè nghỉ hưu, trở về phụ trách Nhà Văn hóa Hội Cựu chiến binh TP Hà Nội, tích cực tham gia các hoạt động văn hóa - văn nghệ ở địa phương. (Hà Nội mới 18/5/2018)

Công nghệ số đang dẫn dắt nền kinh tế quốc gia

TS. Vũ Tiến Lộc – Chủ tịch Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam (VCCI) nhấn mạnh, công nghệ số đang dẫn dắt nền kinh tế. Từ việc đăng ký kinh doanh, sử dụng hóa đơn điện tử cho đến bán lẻ trực tuyến; Từ môi giới việc làm, kinh doanh vận tải đến bất động sản hay ngân hàng, công nghệ số đang tạo ra những mô hình kinh doanh phi truyền thống. Những khái niệm như E- commerce,  Blockchain, Fintech, Big Data, Internet of Things (IoT)… đã không còn trở nên xa lạ đối với các DN. Với tổng dân số hơn 90 triệu người, với hơn 58 triệu người dùng internet, hơn 125 triệu thuê bao di động, hơn 3.000 DN đổi mới sáng tạo, nhiều DN thành công trong các ngành CNTT, phần mềm, ứng dụng công nghệ số (như FPT, DTT, Viettel...)...

Việt Nam đang được đánh giá là một trong những quốc gia có tiềm năng lớn để phát triển nền kinh tế số. Tại Việt Nam, xu thế “số hóa” đã xuất hiện ở hầu hết mọi lĩnh vực, từ thương mại, thanh toán cho đến giao thông, giáo dục, y tế... Nhiều DN Việt đã bắt đầu tham gia vào thương mại điện tử (Vuivui.com, Tiki.vn...), các nền tảng thanh toán trung gian bằng công nghệ QR Code, ví (123Pay và ZaloPay của ZION, Momo, Webmoney, Payoo...), mạng xã hội (Zalo), thiết bị IoT (máy bán nước, máy bán bánh pizza tự động tích hợp giải pháp thanh toán điện tử cho máy bán hàng VPOS), thanh toán trực tuyến của các ngân hàng... Tỷ trọng của thương mại điện tử trong tổng số doanh số thị trường bán lẻ của Việt Nam  chiếm 3,6%. Đây là con số khiêm tốn so với mức trung bình của khu vực châu Á - Thái Bình Dương (14,5%).

Nền kinh tế số với những mô hình, phương thức kinh doanh mới đã và đang tạo ra những cơ hội lớn để phát triển kinh doanh cho các DN ở các quốc gia trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Phát triển công nghệ số sẽ giúp DNNVV tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu thuận tiện với chi phí thấp. Các công nghệ mới đột phá sẽ cho phép các chuỗi cung ứng được kết nối tốt hơn và phân phối hiệu quả hơn, đồng thời giảm thiểu chi phí hậu cần và giao dịch. Thông qua trao đổi trực tuyến, sẽ tạo cơ hội cho các DN mở rộng thị trường, giảm chi phí kinh doanh, quảng bá, thực hiện tốt các dịch vụ sau bán hàng…, người tiêu dùng thì được mua sắm toàn cầu.

Nếu tận dụng được công nghệ, DN Việt Nam có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh, mở rộng thị trường và thị phần, thậm chí lấn sân vào những thị trường mới do chính DN Việt Nam tạo nên. Các sản phẩm công nghệ sẽ tạo ra nhiều giá trị, giảm chi phí sản xuất, lao động nhân công. Không chỉ các công ty công nghệ mà tất cả DN tại Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ một nền kinh tế được số hóa. DN Việt Nam cũng được đánh giá là có đầy đủ những công cụ để có thể cạnh tranh trong khối ASEAN tích hợp kỹ thuật số và có thể gặt hái thêm nhiều lợi ích tiềm tàng nữa. “Tuy nhiên, để nắm bắt được những cơ hội mà nền kinh tế số mang lại còn có rất nhiều vấn đề đặt ra”, TS. Vũ Tiến Lộc – Chủ tịch VCCI phát biểu.

Chủ tịch VCCI Vũ Tiến Lộc kiến nghị Chính phủ xây dựng chính sách cạnh tranh quốc gia trên cơ sở đảm bảo cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh trong nước, nhất là khi ngày càng có nhiều mô hình kinh doanh phi truyền thống xuất hiện và cần có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho DN tận dụng những cơ hội do nền kinh tế số mang lại. (Thời báo Ngân hàng 18/5/2018)